Luật Hôn nhân gia đình năm 2000

Luật Hôn nhân gia đình năm 2000

Luật hôn nhân gia đình năm 2000 là đạo luật cơ bản quy định về chế định hôn nhân gia đình Việt Nam với nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
 
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời cùng các văn bản hướng dẫn kèm theo là một bước tiến bộ vượt bậc để điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có tác động tích cực đến việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Luật đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
 
Tuy nhiên theo đánh giá tổng kết của Bộ tư pháp sau 12 năm áp dụng và thực hiện Luật hôn nhân Gia đình năm 2000 thì Luật có những điểm hạn chế như sau: Một số quy định của Luật còn chưa tạo ra cơ chế pháp lý hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình vốn có nhiều đặc thù so với các quan hệ dân sự khác.
 
Một số quy định của Luật chưa thực sự phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các quan hệ dân sự - quan hệ tư. Do đó, trong một số quan hệ, các thành viên trong hôn nhân và gia đình chưa được quyền lựa chọn phương án ứng xử tốt nhất cho gia đình và bản thân.
 
Một số quy định của Luật có tính khả thi thấp làm cho việc công nhận, thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Một số quan hệ về hôn nhân và gia đình phát sinh trong thực tiễn chưa được Luật quy định hoặc Luật quy định không cụ thể, như: quan hệ nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn; ly thân; mang thai hộ… Luật còn có những quy định chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giao lưu dân sự, hội nhập quốc tế của Việt Nam, như: quy định về tài sản của vợ chồng tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài…
 
Ba vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được pháp luật quy định:
 
Thứ nhất: Về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ dự liệu một chế độ tài sản pháp định. Theo đó, Luật quy định chung cho tất cả các cặp vợ chồng về căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng, về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng và về phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Về nguyên tắc, đây là chế độ tài sản trong hôn nhân duy nhất được pháp luật thừa nhận. Việc áp đặt một chế độ tài sản trong hôn nhân như vậy là cứng nhắc, không đáp ứng được những nhu cầu khác nhau của các cặp vợ chồng trong việc thực hiện các quan hệ tài sản.
 
Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình đã ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, việc chứng minh đâu là tài sản riêng trên thực tế hiện nay gặp rất nhiều khó khăn nếu hai bên không có thỏa thuận trước hoặc không có các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cụ thể. Qua thực tiễn tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho thấy, việc lập hôn ước trước hôn nhân là cách ứng xử công bằng và tiến bộ. Đó là cơ sở để bảo vệ tài sản riêng của từng cá nhân; trợ giúp kế hoạch dự trù tài sản riêng hay tài sản chung trong hôn nhân, giúp giảm thiểu xung đột và tiết kiệm được án phí tranh tụng trong trường hợp ly hôn…
 
Thứ hai: Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam. Tự nguyện trong hôn nhân bao gồm cả tự nguyện trong kết hôn, tự nguyện trong giải quyết các mẫu thuẫn giữa vợ chồng. Khi có mâu thuẫn trong hôn nhân, vợ chồng có quyền xác định phương thức giải quyết mâu thuẫn tốt nhất, phù hợp với nguyện vọng, hoàn cảnh của chính họ và gia đình họ thông qua biện pháp ly thân hoặc ly hôn.
 
Ly thân là vợ chồng không sống cùng nhau nhưng hôn nhân của họ vẫn tồn tại, để giảm sự căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng, để các bên có thời gian suy ngẫm, đánh giá về tình cảm của vợ chồng, trách nhiệm với con cái và có thể sửa đổi tính tình để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ thừa nhận hai phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng là thông qua hòa giải và thông qua việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn. Chế định ly thân chưa được nhà làm luật Việt Nam thừa nhận.
 
Thứ ba: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa có quy định cụ thể về mang thai hộ. Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học có quy định: nhà nước nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Trẻ ra đời do thực hiện hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân và họ là cha, mẹ đối với đứa trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Điều 6, Điều 20). Việc nghiêm cấm hành vi mang thai hộ nhằm tránh những tiêu cực đã và đang xảy ra như: mang thai hộ nhằm mua bán trẻ sơ sinh bất hợp pháp, mang thai hộ nhằm lách luật để sinh con thứ ba... Song, việc nghiêm cấm này lại hạn chế mong muốn chính đáng của rất nhiều gia đình hiếm muộn, vô sinh.
 
Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Hiện chưa có quy định nào điều chỉnh vấn đề này. Hiện tại Nhà nước đang tiến hành nghiên cứu tổng hợp để tiến hành sửa đổi và bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Hãy liên lạc với chúng tôi để được tư vấn cụ thể.
 
 
 

HÃY LIÊN LẠC VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN CỤ THỂ

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ NAM HÀ NỘI - HSLAWS
Tòa nhà HSLAWS, Số 183 Trường Chinh, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội. 
Điện thoại VP: 04 3724 6666 ; Di động : 090 574 6666 



Các từ có liên quan đến bài viết: Luật Hôn nhân gia đình năm 2000

Phản hồi khách hàng

 

Ý kiến của bạn

Họ tên:  
Email:
Nội dung:  
Mã bảo vệ:   Z7Q0BW
 

Dịch vụ

Hỏi đáp Pháp Luật

Bài viết liên quan

Trang: 1 2