Sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005 - LS. Phạm Thanh Sơn

Sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005 - LS. Phạm Thanh Sơn Sau hơn 8 năm áp dụng trên thực tiễn, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005 đã khắc phục được nhiều nhược điểm của các đạo luật trước đó, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007. 
 

 
 
*  Đối với Luật doanh nghiệp 2005:
Luật doanh nghiệp 2005 ra đời đã có những điểm mới cơ bản so với các văn bản pháp luật trước đó về doanh nghiệp như Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 như sau:
- Đặt các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế vào một khung pháp lý chung.
- Là cơ sở để loại bỏ các “giấy phép con” gây bất lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh.
- Bổ sung hình thức Công ty TNHH có một thành viên là cá nhân.
- Quy định rất cụ thể và chi tiết về Công ty cổ phần.
 
* Đối với Luật đầu tư 2005:
Luật đầu tư 2005 ra đời đã có những điểm tiến bộ trong việc đưa vào cả các nội dung liên quan đến đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước và đầu tư ra nước ngoài, gồm:
- Quyền tự do đầu tư được mở rộng;
- Về hình thức đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng;
- Nhà đầu tư được bảo hộ trong trường hợp trưng thu, trưng dụng, quốc hữu hoá; trường hợp trung thu, trưng dụng, quốc hữu hoá phải vì mục đích công và phải được bảo đảm bồi thường, bồi hoàn theo giá thị trường.
- Về giải quyết tranh chấp, theo quy định của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài có quyền đưa các tranh chấp ra giải quyết tại tổ chức, trọng tài nước ngoài.
- Luật đưa ra các quy chế khuyến khích ưu đãi đầu tư áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.
- Luật đã huỷ bỏ các ưu đãi cũng như các ngăn cấm vi phạm Hiệp định về trợ cấp chính phủ phù hợp với cam kết quốc tế.
- Luật có cải cách đáng kể về thủ tục hành chính đối với đầu tư, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương.
Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, Luật doanh nghiệp 2005Luật đầu tư 2005 đều bộc lộ những hạn chế nhất định cần phải được xem xét điều chỉnh cho phù hợp. Các hạn chế này có thể được khái quát theo các nhóm sau:
+ Về thành lập doanh nghiệp
+ Về thay đổi đăng ký kinh doanh
+ Về công khai và minh bạch hóa thông tin
+ Về tạm dừng, giải thể, phá sản doanh nghiệp.
 
I. Về thành lập doanh nghiệp

Thứ nhất, trình tự, thủ tục đăng ký thành lập đối với doanh nghiệp nước ngoài còn phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước.
Hiện nay, việc thành lập các doanh nghiệp trong nước tương đối đơn giản, được thực hiện theo cơ chế “Một cửa” liên thông giữa cơ quan Thuế, cơ quan Đăng ký kinh doanh và cơ quan Công an. Tuy nhiên, việc quản lý kiểm soát trong quá trình hoạt động vẫn còn có phần hạn chế hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
 
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì thủ tục thành lập phức tạp hơn so với doanh nghiệp trong nước. Dù doanh nghiệp chỉ có 1% vốn đầu tư nước ngoài cũng phải áp dụng các quy định từ lập dự án đầu tư, chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư, giải trình các điều kiện kinh doanh, tính khả thi của dự án, chứng minh địa điểm kinh doanh,… Ngoài ra, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tồn tại mã số thuế riêng và số Giấy chứng nhận đầu tư riêng.
 
Thời gian để hoàn thành các thủ tục đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lâu hơn doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp trong nước chỉ mất khoảng 12 ngày để hoàn tất các thủ tục pháp lý cơ bản trước khi hoạt động thì với các thủ tục nêu trên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải mất từ 2 tháng trở lên. Điều này đã gây ra sự e ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó họ lựa chọn hình thức thông qua người Việt Nam đứng tên, việc này dẫn đến hệ quả xấu khi xảy ra tranh chấp giữa nội bộ doanh nghiệp.
 
Thứ hai, quy định về ngành nghề kinh doanh còn chưa cụ thể, chưa đảm bảo được quyền tự do kinh doanh của công dân.
Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn về việc đăng ký ngành nghề kinh doanh như Quyết định 10/2007/QĐ-TTg và Quyết định 337/2007/QĐ-TTg đã ra đời và tồn tại gần 8 năm. Qua thời gian cũng như sự phát triển không ngừng của thị trường và các quan hệ kinh doanh thương mại thì các quy định về đăng ký ngành nghề kinh doanh dường như ngày càng trở nên lỗi thời, cách thức và yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh theo mã ngành kinh tế Việt Nam chưa thật hợp lý, chưa đảm bảo nguyên tắc “doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế”, nhiều ngành nghề trích dẫn chưa cụ thể và chung chung, có sự xung đột giữa mã ngành cấp 4 và cấp 5. Việc quy định ngành nghề kinh doanh theo phương pháp liệt kê nên dễ dẫn đến tình trạng không đầy đủ, không cập nhật.
 
Ví dụ: “Bán buôn tổng hợp” mã ngành 4690 – Đây là một ngành nghề kinh doanh hay hình thức kinh doanh? “Tổng hợp” ở đây là ngành nghề gì, nếu đăng ký kinh doanh ngành nghề này thì doanh nghiệp cần gì phải đăng ký các ngành nghề mã ngành khác.
      - Hệ thống ngành nghề kinh tế Việt Nam hiện nay theo Quyết định 10/2007/QĐ-TTg và các văn bản pháp luật chuyên ngành được phân tán rải rác, vô cùng đa dạng và nhiều ngành nghề thậm chí cơ quan quản lý khó có thể biết. Do đó, sẽ có tình trạng các doanh nghiệp khi đăng ký ngành nghề trong mã ngành cấp 4 không gọi đúng tên mà doanh nghiệp kinh doanh, sẽ phát sinh trường hợp doanh nghiệp phải đi giải trình với các cơ quan có liên quan như Thuế, Hải quan. Nếu doanh nghiệp và cơ quan này không thống nhất được nội hàm của ngành nghề thì có thể doanh nghiệp bị coi như là kinh doanh không phép, các hợp đồng ký kết có thể bị vô hiệu.

Ví dụ: Thời gian gần đây dư luận đặc biệt quan tâm đến việc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp phép cho ông Nguyễn Đình Nguyên kinh doanh ngành nghề “Nuôi gián đất”, sau đó, chính UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định tiêu hủy số gián đất mà gia đình ông Nguyễn Đình Nguyên đang nuôi. Sự việc này đã một lần nữa khẳng định rằng việc đăng ký ngành nghề kinh doanh còn đang tồn tại nhiều bất cập, chính cơ quan đăng ký kinh doanh cũng chưa xác định được ngành nghề được phép đăng ký.
      - Liên quan đến ngành nghề kinh doanh có điều kiện: đó là việc kiểm soát nguồn vốn pháp định.
 
Ví dụ: Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định là 6 tỷ đồng nhưng cũng không kiểm soát là sau bao lâu 6 tỷ ấy được rút ra. Do đó việc quy định vốn pháp định ở đây chỉ mang tính hình thức nếu luật không quy định rõ và cơ quan nhà nước không có biện pháp quản lý chặt chẽ.
      - Ngoài ra, đối với các nước phát triển, việc quy định về ngành nghề kinh doanh được thực hiện theo hai phương pháp hoặc quy định về các ngành nghề được phép kinh doanh hoặc quy định về các ngành nghề bị cấm kinh doanh. Còn nước ta lại sử dụng cả hai phương pháp này. Do đó, doanh nghiệp vừa phải tìm hiểu về các ngành nghề cấm kinh doanh lại vừa phải xem ngành nghề đó có thuộc các ngành nghề được kinh doanh hay không. Quy định như vậy đã phần nào làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân. Chính vì vậy, cần phải xây dựng một hệ thống ngành nghề kinh doanh cụ thể, cập nhật tạo thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện.
 
Thứ ba, chưa có cơ chế kiểm soát và chế tài xử lý đối với việc không góp đủ vốn điều lệ doanh nghiệp như đã đăng ký theo quy định của pháp luật.
Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Doanh nghiệp quy định thời hạn góp vốn đối với các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên vấn đề quản lý việc góp vốn của doanh nghiệp lại chỉ mang tính hình thức, doanh nghiệp chỉ nộp danh sách cổ đông hay danh sách thành viên kèm theo các Giấy chứng nhận phần vốn góp trong đó thể hiện việc đã góp đủ vốn. Các giấy tờ này đều do doanh nghiệp tự lập và cũng không cần kèm theo tài liệu độc lập của bên thứ ba (như ngân hàng) để chứng minh độ chính xác của các danh sách và Giấy chứng nhận phần vốn góp đó. Cơ quan thuế có kiểm soát các Báo cáo tài chính cũng như sổ sách kế toán của doanh nghiệp, trong đó có thể hiện số vốn thực góp, tuy nhiên, giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế lại chưa có sự liên thông đối với các thông tin này. Chính vì vậy, việc kiểm soát số vốn thực góp của doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh hoàn toàn bị thả lỏng.
 
Bên cạnh đó, cơ chế xử lý đối với việc doanh nghiệp trong nước không tuân thủ quy định của pháp luật về thời hạn góp vốn điều lệ chưa được áp dụng triệt để.
 
Việc thiếu cơ chế giám sát và chế tài xử lý dẫn đến hậu quả là các doanh nghiệp tự do đăng ký mức vốn điều lệ mà mình thích để làm đẹp hồ sơ khiến cho việc đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp không được chuẩn xác ảnh hưởng đến tính cạnh tranh lành mạnh trong môi trường kinh doanh.
 
Thứ tư, việc quy định một số doanh nghiệp mới thành lập năm 2014 phải áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là chưa thực sự phù hợp
Kể từ ngày 01/01/2014 khi Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn chính sách thuế GTGT có hiệu lực có nhiều doanh nghiệp không thể đáp ứng điều kiện được đăng ký theo phương pháp khấu trừ thuế mà phải áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng (Điều 12,13).
 
Quy định trên dẫn đến một trào lưu là các chủ thể dự kiến thành lập doanh nghiệp sẽ chuyển sang tìm kiếm mua lại các doanh nghiệp thành lập trước khi Thông tư này có hiệu lực để có thể tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Trào lưu này vừa có mặt tích cực nhưng cũng thể hiện những tiêu cực nhất định:
      - Xét dưới góc độ quản lý Nhà nước: Trào lưu này khiến cho số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm, số lượng hồ sơ tạm ngừng, giải thể, phá sản doanh nghiệp cũng giảm và phần nào tiết kiệm được thời gian và chi phí cho cả phía doanh nghiệp và cả Nhà nước.
     - Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ minh bạch, rõ ràng trong các giao dịch, nếu các doanh nghiệp được mua lại có nhiều gian lận và thiếu minh bạch trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính trước đó sẽ dẫn đến hệ quả là làm phát sinh nhiều tranh chấp sau giao dịch mua bán.
 
II. Về thay đổi đăng ký kinh doanh, thay đổi Giấy chứng nhận đầu tư

Thứ nhất, thời gian thực hiện việc chốt thuế của cơ quan thuế khi doanh nghiệp đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở sang quận, huyện khác đối với doanh nghiệp trong nước và sang tỉnh/thành phố khác đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được quy định cụ thể, rõ ràng dẫn đến nhiều hệ lụy
Trước khi đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở chính, doanh nghiệp sang quận/ huyện khác đối với doanh nghiệp trong nước và sang tỉnh/ thành phố khác đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục với cơ quan thuế để được cấp Giấy xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ thuế.
 
       - Xét dưới góc độ quản lý Nhà nước thì việc chốt thuế là rất cần thiết, đảm bảo việc doanh nghiệp không còn tồn tại nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành cũng như tránh việc doanh nghiệp thoái thác nghĩa vụ tài chính với cơ quan Nhà nước nơi đặt trụ sở cũ.
      - Tuy nhiên, xét dưới góc độ thuận lợi cho doanh nghiệp: việc pháp luật chưa quy định rõ ràng về thời gian giải quyết của cơ quan thuế trong việc xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế cũng dẫn đến nhiều bất cập. Trong khi thời hạn thuê trụ sở công ty đã hết hay vì một lý do nào đó mà việc thay đổi trụ sở không thể chậm trễ mà thủ tục chốt thuế vẫn chưa xong, doanh nghiệp buộc phải chuyển trụ sở, dẫn đến việc doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng bị coi là hoạt động “chui”, doanh nghiệp “ma” và địa chỉ ảo.
 
Thứ hai, khi doanh nghiệp trong nước thay đổi đăng ký kinh doanh phải thực hiện việc áp mã ngành nghề theo mã ngành cấp 4 tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg
Theo Thông tư 01/2013/TT- BKHĐT ban hành ngày 21/01/2013 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp thì khi doanh nghiệp thực hiện việc thay đổi đăng ký doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện đồng thời việc áp mã ngành nghề theo đúng mã ngành cấp 4 quy định tại Quyết định số 10/2007/QĐ- TTg và Quyết định số 337/2007/QĐ-TTg (đối với các ngành nghề chưa có mã ngành nghề theo quy định tại 2 Quyết định này).
 
      - Xét dưới góc độ quản lý Nhà nước: Việc áp mã ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ đảm bảo thuận lợi cho cơ quan chức năng trong quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
      - Tuy nhiên, nếu xét dưới gốc độ phù hợp với doanh nghiệp: Trên thực tế, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định lại ngành nghề kinh doanh theo các mã ngành nghề được quy định, dẫn tới việc doanh nghiệp buộc phải từ bỏ ngành nghề cũ nếu muốn được cơ quan đăng ký kinh doanh chấp thuận việc thay đổi đăng ký doanh nghiệp. Điều này quả thật vô lý khi ngành nghề kinh doanh trước đó vẫn được hoạt động theo đúng giấy đăng ký nhưng sau đó lại phải bỏ chỉ vì không tìm được mã ngành nghề tương ứng. Và doanh nghiệp vô tình bị ép phải lựa chọn giữa việc giữ nguyên ngành nghề đang kinh doanh và không thực hiện bất kỳ thay đổi nào hoặc chấp nhận bỏ ngành nghề kinh doanh nào đó để đăng ký việc thay đổi các nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
 
III. Quy định về vấn đề công khai và minh bạch hóa thông tin của doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chặt chẽ.
 
Vấn đề minh bạch hóa thông tin về địa điểm đặt trụ sở kinh doanh của doanh nghiệp: Việc Bộ xây dựng có văn bản gửi Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội yêu cầu ngừng cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp đề nghị đặt trụ sở kinh doanh tại nhà tập thể, nhà chung cư hay khu đô thị mới… chỉ mang tính chất nội bộ giữa các cơ quan chức năng và chỉ khi công dân thực hiện việc đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh, hồ sơ bị từ chối với lý do là địa điểm đặt trụ sở không phù hợp thì người dân mới được biết đến các quy định trên. Trên các website về thủ tục hành chính cũng không hề đề cập các vấn đề này. Sự thiếu minh bạch và công khai đối với các quy định như trên khiến cho người dân phải rất vất vả trong việc thực hiện các thủ tục.
 
Ngoài ra, một hệ thống thống kê và đánh giá, xếp loại tín dụng doanh nghiệp là hoàn toàn chưa tồn tại. Để đảm bảo việc công khai, minh bạch hóa thông tin của doanh nghiệp, cần phải xây dựng một hệ thống cho phép thống kê các thông tin doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó có những đánh giá, xếp hạng về năng lực tài chính của từng doanh nghiệp tạo uy tín cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả đồng thời đưa ra cảnh báo với các đối tác về tình hình tài chính bất lợi của doanh nghiệp yếu, kém.
 
Yêu cầu công khai và minh bạch hóa thông tin đối với doanh nghiệp nói chung còn yếu, nhất là đối với các công ty cổ phần chưa đại chúng. Các yêu cầu về công khai hóa thông tin chưa thật đầy đủ và tương thích với thông lệ quốc tế, chưa có cơ chế kiểm tra và giám sát một cách hiệu quả chất lượng của các thông tin được công bố.
 
IV. Việc tạm dừng, giải thể, phá sản doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc trong khâu xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế
 
Cũng tương tự như thủ tục chốt thuế trước khi thay đổi địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp đã được trình bày tại phần thứ nhất của mục II. Việc quy định chưa rõ ràng, cụ thể về thời hạn cơ quan thuế phải thực hiện thủ tục chốt thuế dẫn đến thời gian giải thể doanh nghiệp thường mất nhiều thời gian thậm chí kéo dài nhiều năm. Thực tế này đã và đang gây ra tình trạng doanh nghiệp “treo”, người đại diện pháp luật không đủ kiên nhẫn để tiến hành các thủ tục “đóng cửa doanh nghiệp” mà bỏ mặc doanh nghiệp.
 
Việc phá sản doanh nghiệp tuy đã có Luật phá sản 2004 điều chỉnh chuyên biệt, tuy nhiên các vấn đề cần giải quyết tại các chi nhánh, công ty con của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì hiện nay đều chưa được luật nào quy định cụ thể, làm cho doanh nghiệp, hợp tác xã rất lúng túng khi lâm vào tình trạng phá sản.
 
 
 
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Thứ nhất, hạn chế tối đa sự khác biệt giữa trình tự, thủ tục thành lập giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Áp dụng thống nhất các thủ tục của Luật doanh nghiệp về thành lập doanh nghiệp, mua cổ phần, phần vốn góp đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; Giảm dần khác biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. 
 
Thứ hai, quy định cụ thể cơ chế giám sát và chế tài xử lý đối với việc góp vốn điều lệ của doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.
 
Thứ ba, hệ thống hóa các ngành nghề kinh doanh một cách chi tiết, cụ thể và phù hợp hơn với thực tiễn.
Ví dụ: Người thành lập doanh nghiệp chủ động ghi ngành nghề kinh doanh trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, còn việc áp mã ngành nghề kinh doanh đã đăng ký theo bảng hệ thống ngành nghề kinh tế là việc làm của cơ quan nhà nước có liên quan, theo yêu cầu quản lý nhà nước của từng cơ quan có thẩm quyền.
 
Thứ tư, công khai minh bạch hóa thông tin.
   - Cần phải có một cơ quan kiểm tra và giám sát việc thực hiện việc công bố nội dung đăng ký kinh doanh, kiểm tra chất lượng các thông tin được công bố cũng như nên quy định việc công khai, minh bạch thông tin ngay từ chính cơ quan đăng ký kinh doanh.
   - Ngoài ra trên hệ thống của Cục quản lý đăng ký kinh doanh quốc gia cần phải có quy hoạch địa chỉ doanh nghiệp đặt trụ sở, tránh tình trạng đăng ký ảo, kê khai địa chỉ ảo dẫn đến khó khăn cho việc quản lý cho cơ quan nhà nước và thực hiện giao dịch với các đối tác.
   - Cần phải có cơ quan, tổ chức phi Chính phủ dựa trên nguyên tắc đánh giá để “xếp hạng tín dụng doanh nghiệp, năng lực tài chính doanh nghiệp” để làm nguồn tra cứu thông tin doanh nghiệp, kiểm soát được tài chính doanh nghiệp; Tổ chức đào tạo doanh nghiệp xây dựng cấu trúc doanh nghiệp chuẩn.
 
Thứ năm, đào tạo xây dựng cấu trúc doanh nghiệp chuẩn, từ đó làm cơ sở đánh giá doanh nghiệp, cũng như góp phần giúp cho doanh nghiệp có chiến lược phát triển đúng đắn trong quá trình hoạt động.
 
 
 
Nguồn: Tham luận của Luật sư Phạm Thanh Sơn tại buổi Tọa đàm góp ý Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) ngày 17/5/2014 do Báo Đầu tư tổ chức. 
Video đã bị xóa

Phản hồi khách hàng

 

Ý kiến của bạn

Họ tên:  
Email:
Nội dung:  
Mã bảo vệ:   RHS3QG
 

Video đã đăng

Dịch vụ

Hỏi đáp Pháp Luật

Bài viết liên quan