Bàn về thủ tục hành chính trong Đấu thầu Quốc tế ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn của Luật sư Phạm Thanh Sơn

Bàn về thủ tục hành chính trong Đấu thầu Quốc tế ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn của Luật sư Phạm Thanh Sơn Thực hiện Kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 2014, ngày 05/06/2014 Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Hiệp định về mua sắm Chính phủ của WTO và vấn đề gia nhập của Việt Nam”...

 
 
 
I. Lý luận và thực tiễn về Đấu thầu Quốc tế tại Việt Nam hiện nay
1. Khái quát chung về Đầu thầu Quốc tế tại Việt Nam
Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, thông qua hoạt động đấu thầu, những người mua (Bên mời thầu) có nhiều cơ hội để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất tương xứng với giá trị của đồng tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra. Đồng thời những người bán (Nhà thầu) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
 
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2005 “Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài và nhà thầu trong nước.”
 
Căn cứ vào các tiêu chí như đối tượng đấu thầu, cách thức lựa chọn nhà thầu, phương thức áp dụng, có thể có nhiều cách khác nhau để phân loại đấu thầu ví dụ như đấu thầu mua sắm hàng hóa, đấu thầu xây dựng công trình, đấu thầu tuyển chọn tư vấn...
 
Hiện nay, mua sắm chính phủ ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu, sử dụng chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, mua sắm chính phủ đang phải đối mặt với nhiều thách thức như tham ô, tham nhũng, thất thoát lãng phí nguồn vốn ngân sách. Về vấn đề này hiện nay, nhiều nước đã tiến hành ký kết Hiệp định Mua sắm Chính phủ (Hiệp đinh GPA). Hiệp định GPA có thể là một động lực tốt để giải quyết tình trạng thiếu minh bạch trong các hợp đồng đầu thầu mua sắm công và là một biện pháp tốt nhằm giảm tham nhũng trong đầu tư công. Về lâu dài, GPA sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng pháp lý ngày càng hoàn thiện, giúp cho nền hành chính công của Việt Nam ngày càng được cải cách tốt hơn, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững hơn trong tương lai. Việt Nam cũng cần phải xem xét các cơ hội và thách thức để quyết định có hay không gia nhập hiệp định này.
 
Công tác đấu thầu đã và đang đóng góp những thành tựu đáng ghi nhận trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam, trong đó đấu thầu quốc tế đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong quá trình công ngiệp hóa hiện đại hóa đất nước khi các dự án đòi hỏi những yêu cầu cao về chất lượng thiết bị, hàng hóa và nhân lực.
 
Mặc dù quy chế đấu thầu còn có một số nội dung cần được sửa đổi, bổ sung song thời gian qua đã thực sự là cơ sở pháp lý góp phần to lớn trong quản lý hoạt động đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng. Sự quan tâm, tăng cường quản lý phân cấp trong đấu thầu cũng đã tạo cơ sở làm hài hòa hóa thủ tục, phân định rõ trách nhiệm trong việc lựa chọn nhà thầu. Năng lực của các nhà thầu Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt khi đã có thể đảm nhận vị trí tổng thầu, sự trưởng thành của các nhà thầu Việt Nam còn vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Hoạt động đấu thầu cũng đã được xã hội quan tâm hơn khi các phương tiện thông tin đại chúng đều bám sát các cuộc đấu thầu; vai trò của công luận đã làm cho công tác đấu thầu ngày càng được công khai, công bằng, minh bạch.
 
2. Đánh giá về điều kiện đối với chủ thể trong đấu thầu quốc tế
Đặc trưng của đấu thầu quốc tế là có sự tham gia của cả nhà thầu trong nước và nhà thầu nước ngoài. Như vậy, yếu tố chủ thể là yếu tố quyết định phân biệt đấu thầu quốc tế với đấu thầu trong nước. Nhà thầu nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật mà nhà thầu đó mang quốc tịch. Như vậy, có thể thấy nhà thầu trong nước là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo pháp luật Việt Nam không phân biệt doanh nghiệp đó có vốn đầu tư nước ngoài hay không. Một số quy định liên quan đến chủ thể trong đấu thầu quốc tế vẫn còn hạn chế cần phải có biện pháp khắc phục kịp thời, cụ thể như sau:
 
Một là, thiếu tính cạnh tranh giữa các nhà thầu nước ngoài và nhà thầu trong nước do chỉ định thầu
Theo điều 13 Luật Đấu thầu 2005 quy định về các trường hợp được phép đấu thầu quốc tế như sau:
"1. Việc tổ chức đấu thầu quốc tế được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA mà nhà tài trợ quy định phải đấu thầu quốc tế;
b) Gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó ở trong nước chưa đủ khả năng sản xuất;
c) Gói thầu mà nhà thầu trong nước không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu hoặc đã tổ chức đấu thầu trong nước nhưng không chọn được nhà thầu trúng thầu”.
 
Như vậy, đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài nước thông thường phải tổ chức đấu thầu quốc tế. Chủ thể tài trợ, cho vay vốn đối với Dự án luôn muốn nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả, có sinh lời do đó họ thường quy định phải tổ chức đấu thầu quốc tế, nếu không thực hiện theo yêu cầu của họ thì vốn không được cung cấp cho chủ đầu tư. Vay vốn từ Chính phủ, ngân hàng thương mại của một quốc gia và buộc phải lựa chọn nhà thầu từ quốc gia đó gần như là thông lệ trên thế giới.
 
Vì vậy, dẫn đến tình trạng như việc đấu thầu dự án nhiệt điện, vì nước ta thiếu vốn mà nhu cầu về điện ngày càng cấp bách, một số dự án nhiệt điện buộc phải vay vốn từ ngân hàng của Trung Quốc nên buộc phải chỉ định nhà thầu Trung Quốc như các dự án nhiệt điện: Quảng Ninh 1, Vĩnh Tân 1, Duyên Hải 1, hoặc đấu thầu hạn chế trong số các nhà thầu Trung Quốc (như dự án Nhiệt điện Cao Ngạn) hoặc đàm phán trực tiếp (dự án Nhiệt điện Sơn Động)
 
Hai là, đã đưa ra các điều kiện bắt buộc đối với nhà thầu nước ngoài tuy nhiên lại thiếu chế tài hoặc có nhưng lại thiếu sức răn đe
Theo Khoản 3 điều 4 Quyết định số 87/2004/QĐ-TTg quy định: “Trong mọi trường hợp được giao thầu (do thắng thầu thông qua đấu thầu hoặc được chọn thầu) nhà thầu nước ngoài phải liên danh với nhà thầu Việt Nam hoặc phải sử dụng nhà thầu phụ Việt Nam (trừ trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam)”
 
Ngoài ra còn một số quy định khác về nhà thầu có yếu tố nước ngoài như:
- Nhà thầu nước ngoài trúng thầu phải cam kết tỷ lệ % khối lượng công việc cùng đơn giá tương ứng dành cho phía Việt Nam là liên danh hoặc đấu thầu phụ như đã nêu trong hồ sơ dự thầu.
- Trong khi thương thảo hoàn thiện hợp đồng, nếu nhà thầu nước ngoài trúng thầu không thực hiện các cam kết nêu trong hồ sơ dự thầu thì kết quả đấu thầu sẽ bị hủy bỏ. Các nhà thầu tham gia đấu thầu ở Việt Nam phải cam kết mua sắm và sử dụng vật tư thiết bị phù hợp với chất lượng và giá cả đang sản xuất, gia công hoặc có tại VN.
- Trong trường hợp hai hồ sơ dự thầu của nhà thầu nước ngoài được đánh giá ngang nhau, hồ sơ dự thầu có tỷ lệ công việc dành cho phía Việt Nam cao hơn sẽ được chấp nhận.
 
Tuy nhiên chế tài xử lý vi phạm lại không rõ ràng, quy định một cách chung chung nên thực sự chưa đủ sức răn đe với nhà thầu nước ngoài. Điển hình như Khoản 1 Điều 19 Nghị định 121/2013/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi để nhà thầu nước ngoài thực hiện công việc khi chưa được cấp giấy phép thầu theo quy định”. Vì vậy dẫn đến tính trạng các nhà thầu nước ngoài không tuân thủ, rất lộn xộn, nhà nước không quản lý được, một số nhà thầu nước ngoài thực hiện các công trình không đảm bảo chất lượng, kéo dài thời gian, không chấp hành quy định của pháp luật trong việc đưa người và máy móc thiết bị thi công vào, đăng ký quản lý của cơ quan chức năng còn lỏng lẻo.
 
Ba là, Quy chế quản lý nhà thầu nước ngoài còn nhiều điểm không rõ ràng.
Theo Điều 7 Quyết định số 87/2004/QĐ-TTg ngày 19/5/2004 của Thủ tướng, tổng thầu nước ngoài phải thực hiện qui định: việc tuyển lao động nước ngoài thì chỉ đăng ký đưa vào Việt Nam những chuyên gia quản lý kinh tế kỹ thuật và người có tay nghề cao mà Việt Nam không đủ khả năng đáp ứng. Điểm quan trọng thứ hai là tổng thầu nước ngoài phải thực hiện hợp đồng liên danh đã ký kết với nhà thầu Việt Nam, hoặc thực hiện các cam kết sử dụng nhà thầu Việt Nam đã được qui định khi dự thầu, chào thầu.
 
Khi triển khai hình thức tổng thầu, phần thi công công trình là phần phải sử dụng nhiều lao động, bao gồm cả lao động kỹ thuật cao, lao động có tay nghề và lao động phổ thông. Tuy nhiên, nhiều nhà thầu điển hình như nhà thầu Trung Quốc không sử dụng lao động Việt Nam, kể cả lao động phổ thông. Để lý giải điều này, phía Trung Quốc đưa ra nhiều lý do, trong đó có lý do bất đồng ngôn ngữ. Đây là cản trở lớn trong quá trình điều hành, quản lý lao động. Hơn nữa, họ cho rằng, lao động của họ đã quen việc, việc điều hành, sử dụng lao động đã thành một ê-kíp. Nếu sử dụng lao động bản địa, sẽ khó khăn cho họ trong việc quản lý, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện công việc. Nhưng hiện nay cũng chưa có cơ chế để xử lý những trường hợp này.
 
3. Đánh giá chung về đấu thầu quốc tế tại Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, tính công khai trong hoạt động đấu thầu quốc tế còn hạn chế chưa linh hoạt để các nhà thầu nước ngoài có thể tiếp cận thông tin đấu thầu một cách nhanh chóng.
Tính công khai trong quy định không chỉ bao hàm về thông báo mời thầu mà còn các nội dung khác như tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu được giữ bí mật hoặc cho phép tuỳ ý bổ sung tiêu chuẩn đánh giá trong quá trình xem xét, thể hiện sự thiếu chuyên nghiệp trong quá trình đấu thầu. Thực tế này dẫn đến phải điều chỉnh trong Quy chế đấu thầu bằng cách yêu cầu tất cả tiêu chuẩn đánh giá phải được nêu công khai ngay trong hồ sơ mời thầu.
 
Thứ hai, vẫn tồn tại trường hợp nhà thầu nước ngoài trúng thầu nhưng không đảm bảo đúng năng lực thực hiện gói thầu.
 Theo Vụ Kế hoạch Ðầu tư (Bộ GTVT), ngành GTVT hiện đang triển khai gần 40 dự án ODA, tổng mức đầu tư hơn 16 tỷ USD. Các nhà tài trợ đến từ JICA (Nhật Bản), WB (Ngân hàng Thế giới), ADB (Ngân hàng Phát triển châu Á), EDCF (Hàn Quốc),... hầu hết đều có những quy định ngặt nghèo về nhà thầu xây lắp. Các nhà tài trợ không cho phép các doanh nghiệp thuộc Bộ GTVT tham gia đấu thầu các dự án do bộ hoặc một đơn vị trực thuộc thực hiện. Ðiều này đã biến các nhà thầu trong nước đành chấp nhận làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài, điển hình như tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai, các dự án ODA lớn khác như cầu Nhật Tân, đường vành đai III giai đoạn 2,... chủ yếu do các nhà thầu quốc tế làm nhà thầu chính. Tuy nhiên, một vấn đề nổi cộm là nhiều nhà thầu nước ngoài khi thi công các dự án giao thông ở nước ta cũng tỏ ra yếu kém về năng lực, yếu về tài chính, kinh nghiệm và nhân sự, tiến độ thi công chậm và chất lượng kém, không tương xứng với những hồ sơ khi bỏ thầu các dự án giao thông, vẫn chỉ trông chờ tạm ứng, thanh toán của chủ đầu tư để thi công. Lẽ ra, nhà thầu này phải bị thay thế, loại bỏ từ dự án đó về sau của chủ đầu tư công trình. Nhưng thực tế, sau một thời gian ngắn, các nhà thầu này lại vẫn được tiếp tục tham gia đấu thầu dự án của chủ đầu tư đó và vẫn tiếp tục trúng thầu. Trong đấu thầu, việc tính điểm thưởng, phạt các nhà thầu xảy ra hiện tượng không công bằng, nhiều nhà thầu vi phạm ở các dự án khác hoặc không trung thực lại không bị trừ điểm. Việc xác định năng lực thực tế của các nhà thầu tham gia đấu thầu là thật sự cần thiết, nhưng các quy định, văn bản pháp luật liên quan những vấn đề này thiếu chi tiết, cụ thể. Mặt khác, sự phối hợp của các cơ quan chức năng, đặc biệt là chủ đầu tư, ban quản lý dự án, tư vấn giám sát trong đánh giá nhà thầu thiếu chặt chẽ, thực hiện quản lý giám sát dự án lỏng lẻo.
 
Luật Đấu thầu 2013 đã bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục, phương pháp lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và rút kinh nghiệm từ thực tiễn lựa chọn nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ công cộng tại VIệt Nam trong thời gian qua. Đi đôi với giải pháp phát triển quyết liệt để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công, quy định này góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, lựa chọn nhà đầu tư một cách minh bạch, cạnh tranh; xây dựng niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam.
 
Thứ ba, tình trạng giá đề nghị trúng thầu của nhà thầu vượt giá dự toán được duyệt phát sinh ngày càng nhiều.
Hiện nay, việc đánh giá và thẩm định kết quả hồ sơ dự thầu chủ yếu dựa trên những tiêu chí trong hồ sơ mời thầu.Dù các tiêu chí này đã được xây dựng trên cơ sở các quy định yêu cầu tối thiểu về năng lực nhà thầu, nhưng việc áp dụng vào thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Thực tế, có trường hợp giá đề nghị trúng thầu của nhà thầu vượt giá dự toán được duyệt, sau khi đánh giá và thẩm định, bên mời thầu đã báo cáo nhà tài trợ và được chấp thuận, nhưng theo quy định của Luật Ðấu thầu, việc này lại không phù hợp và sau đó, khi thanh tra, kiểm toán, sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, khó giải trình. 
 
4. Đánh giá về thủ tục hành chính trong đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
Hiện nay, không có văn bản hướng dẫn riêng cho công tác đầu thầu quốc tế, mà các thủ tục đấu thầu được áp dụng chung cho cả đấu thầu trong nước, điều này cho thấy các hạn chế chung về thủ tục hành chính trong hoạt động đấu thầu cũng phát sinh tương tự trong hoạt động đấu thầu quốc tế. Tuy nhiên, một số hạn chế điển hình đặc trưng cho đấu thấu quốc tế bởi nó dẫn đến các hệ lũy không hề nhỏ cho các chủ thể tham gia đấu thầu.
 
Một là, quy định về quản lý nhà thầu nước ngoài còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Sau khi được lựa chọn để thực hiện các gói thầu trên lãnh thổ Việt Nam, nhà thầu nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về nhập cảnh, xuất cảnh, nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa, đăng ký tạm trú, chế độ kế toán, thuế và các quy định khác của pháp luật Việt Nam liên quan, trừ trường hợp có quy định khác trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thoả thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết. Mặc dù đã có quy định như trên, tuy nhiên lại không có văn bản tổng hợp, hướng dẫn cụ thể nhà thầu nước ngoài phải thực hiện các thủ tục gì, trình tự ra sao với các hồ sơ giấy tờ như thế nào. Điều này tạo nên tâm lý e ngại cho các nhà thầu nước ngoài khi đấu thầu quốc tế tại Việt Nam.
 
Hai là, nguyên tắc quản lý hợp đồng không rõ ràng và thiếu sự nhất quán gắn với thẩm quyền và phân cấp quyết định. Khi sử dụng vốn sở hữu chung, vốn nhà nước, việc quy định cơ chế kiểm soát thủ tục trình duyệt không rõ ràng đã làm cho việc quản lý hợp đồng sau khi đấu thầu đang là một trong những khâu yếu nhất trong quản lý dự án đầu tư. Minh chứng cụ thể đó là quy định giữa quản lý chất lượng, nghiệm thu công việc, với quy định về thanh toán kèm theo hồ sơ, thủ tục thanh toán chưa đồng bộ, đã phát sinh rất nhiều các tranh chấp trên thực tế giữa chủ đầu tư với nhà thầu nói chung và nhà thầu nước ngoài nói riêng.
 
Một số quy định thiếu nhất quán và chưa phù hợp với khoa học về quản lý hợp đồng như Điều 57 Luật Đấu thầu 2005 và Điều 109 Luật Xây dựng 2003 đều mang tên “Điều chỉnh hợp đồng…” nhưng nội dung và cách diễn giải không nhất quán, chưa phân biệt được rõ được nguyên tắc ký bổ sung, hiệu chỉnh để “Điều chỉnh hợp đồng”. Việc quản lý vốn nhà nước cần có các cấp phê duyệt kiểm soát nhưng lại không có phân loại vấn đề rõ để phân cấp thực hiện sẽ gây khó khăn trong quá trình thực thi đối với các chủ đầu tư, nhiều tình huống bị nhà thầu nước ngoài phạt chỉ do chủ đầu tư Việt Nam lúng túng trong thủ tục quyết định.
 
Ba là, cách thức xác định một số gói thầu được phép chỉ định thầu chưa rõ ràng đi kèm với thủ tục chưa được quy định cụ thể. Hiện nay, luật chưa có quy định rõ ràng về thủ tục và khung pháp lý kiểm soát để làm cơ sở yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một gói thầu được coi là thuộc vào các trường hợp được chỉ định thầu theo Điều 20 Luật Đấu thầu 2005. Do vậy, chủ đầu tư kiến nghị tràn lan, thủ tục thiếu nhất quán về điều kiện để được áp dụng chỉ định thầu và không phân định rõ được trách nhiệm của từng cấp quyết định. Đặc biệt có những trường hợp chỉ định thầu với thầu chính là nhà thầu nước ngoài không đảm bảo được năng lực thực hiện gói thầu, gây ra tình trạng kiện tụng kéo dài.
 
Bốn là, một số cơ chế, quy định làm cho doanh nghiệp trong nước thiệt thòi hơn so với doanh nghiệp nước ngoài. Ví dụ, điển hình như điều kiện thanh toán thường áp dụng không bị ràng buộc chặt chẽ như phương thức L/C đối với thanh toán cho nhà thầu nước ngoài nên tăng áp lực rủi ro vốn và chi phí đi kèm cho nhà thầu trong nước. Một số nội dung khác cũng được đề cập liên quan đến chính sách thuế, thủ tục hành chính,... cũng còn nhiều hạn chế.
 
Năm là, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng được giao kết thông qua đấu thầu quốc tế vẫn còn nhiều vướng mắc. Như đã trình bày ở trên, việc liên danh nhà thầu với thầu chính là nhà thầu nước ngoài và thầu phụ là nhà thầu trong nước diễn ra khá phổ biến trong các dự án của Chính phủ, các Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các doanh nghiệp có vốn nhà nước (đối tượng áp dụng trong Hiệp định mua sắm Chính phủ của WTO). Khi xảy ra tranh chấp quá trình khởi kiện liên danh gặp phải nhiều khó khăn, chưa có quy định cụ thể về việc chủ thể khởi kiện là từng nhà thầu hay phải Liên danh nhà thầu mới được khởi kiện.
 
Luật Đấu thầu 2013 đã có điều chỉnh quy định về nguyên tắc quản lý hợp đồng và chỉ định thầu nêu trên tuy nhiên các vấn đề khác chưa được đề cập rõ ràng, do đó cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để khắc phục các hạn chế đó.
 
II. Giải pháp hoàn thiện Để tăng cường hiệu quả đấu thầu nhằm quản lý tốt hơn nữa các nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư phát triển, cần có những định hướng về đấu thầu một cách cụ thể.
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu.
- Cần ban hành văn bản hướng dẫn tổng hợp các quy định về đấu thầu quốc tế giúp cho các nhà thầu nước ngoài có thể yên tâm đấu thầu tại Việt Nam, đồng thời giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước giảm bớt gánh nặng khi thực hiện chức năng nhiệm vụ
 
- Bổ sung mẫu hồ sơ, quy chế để cho các đơn vị mời thầu có quy chuẩn và nền tảng nhằm nâng cao chất lượng lập hồ sơ mời thầu
Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu của Nhà nước đã ban hành, các bộ ngành, địa phương tùy theo tình hình cụ thể cần ra các văn bản hướng dẫn thực hiện cho phù hợp.
 
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh các các quy định pháp luật liên quan đến các tiêu chuẩn, phân cấp quản lý đầu tư.
Xem xét điều chỉnh, bổ sung Luật Đấu thầu và các hướng dẫn kèm theo. Trong đó, phải có quy định tiêu chuẩn trúng thầu theo các yếu tố đồng bộ: giá dự thầu thấp; trình độ công nghệ cao; kinh nghiệm và trình độ quản lý, năng lực thi công của nhà thầu; tiến độ triển khai; nâng mức phạt vi phạm hợp đồng.
 
- Nên ưu tiên tiêu chí chất lượng lên trên tiêu chí giá thầu thấp khi thẩm định hồ sơ dự thầu
Luật Đấu thầu theo hướng lựa chọn nhà thầu EPC không nhất thiết phải có giá thấp nhất. Trong đó cần quy định rõ cách đánh giá lựa chọn nhà thầu EPC; cách xác định năng lực nhà thầu EPC để đảm bảo chọn được nhà thầu có kinh nghiệm quản lý dự án tốt, năng lực về kỹ thuật và tài chính mạnh. Đặc biệt các dự án khi nhà đầu tư nước ngoài thắng thầu phải có quy định tỷ lệ nội địa hóa về chế tạo thiết bị tại Việt Nam.
 
- Thắt chặt và quản lý chặt chẽ về chứng chỉ hành nghề, giấy phép…
Cần kiểm tra chứng chỉ hành nghề theo luật định; cấp giấy phép an ninh quốc gia cho các dự án đầu tư và nhà thầu nước ngoài vào kinh doanh tại các vùng, các ngành nhạy cảm. Lập quỹ dữ liệu về giao nhận thầu công trình xây dựng, tổ chức tổng kết và công bố rộng rãi kinh nghiệm xây dựng các công trình mới, công trình lớn có vốn đầu tư nhà nước. Ban hành Luật Đầu tư công, trong đó đặc biệt ngăn ngừa tình trạng thanh toán dây dưa, gây thiệt hại cho nhà thầu.
Sớm ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển công nghiệp phụ trợ để giảm bớt nhập siêu, đồng thời, chủ động thay thế máy móc thiết bị, phụ tùng nhập khẩu không để phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, góp phần tăng trưởng kinh tế.
 
2. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đấu thầu
Hiện nay, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đấu thầu tại các cơ quan nhà nước, thường kiêm nhiệm mà không phải có chuyên môn riêng về đấu thầu, điều này là một khó khăn trong quá trình chấm thầu cũng như các công tác quản lý hợp đồng, quản lý dự án sau đó. Chính vì vậy, cần thiết phải có các khóa học, tập huấn nhằm nâng cao kiến thức về đấu thầu cho đội ngũ cán bộ tại các cơ quan doanh nghiệp.
 
 
Nguồn: Tham luận của LS. Phạm Thanh Sơn tại Hội thảo khoa học "Hiệp định về mua sắm Chính phủ của WTO và vấn đề gia nhập của Việt Nam” do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức.
Video đã bị xóa

Phản hồi khách hàng

 

Ý kiến của bạn

Họ tên:  
Email:
Nội dung:  
Mã bảo vệ:   YX0VP5
 

Video đã đăng

Dịch vụ

Hỏi đáp Pháp Luật

Bài viết liên quan