Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Điều 161 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau:
 
 
 
 
 
 
 
Điều 161: Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự 
 
“Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
 
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
 
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
 
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình;
 
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
 
3. Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết”.
 
- Thời hiệu khởi kiện tạm ngừng khi có sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian mà Bộ luật dân sự năm 2005 quy định không tính vào thời hiệu khởi kiện. Khi chấm dứt sự kiện làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu lại tiếp tục diễn ra. Như vậy, vấn đề gián đoạn (tạm ngừng) thời hiệu khởi kiện chỉ được đặt ra khi thời hiệu đang còn, không đặt ra khi thời hiệu đã kết thúc.
 
- Sự kiện bất khả kháng là một trong những căn cứ quan trọng nhất làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện. Khái niệm bất khả kháng được quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005 không có ý nghĩa là căn cứ làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện mà còn được áp dụng chung của toàn bộ Bộ luật dân sự và pháp luật dân sự, ví dụ khoản 2 Điều 302 Bộ luật dân sự năm 2005 - không phải chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ dân sự nghĩa vụ dân sự do trường hợp bất khả kháng, khoản 3 Điều 506 Bộ luật dân sự năm 2005 - yêu cầu miễn, giảm tiền thuê khoán trong trường hợp hoa lợi, lợi tức bị mất ít nhất một phần ba trong trường hợp bất khả kháng, Điều 509 Bộ luật dân sự năm 2005 bên thuê khoán phải chịu thiệt hại về một nửa súc vật thuê khoán do sự kiện bất khả kháng, khoản 3 Điều 546 Bộ luật dân sự năm 2005 – bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng.
 
Bộ luật dân sự năm 2005 đã đưa ra khái niệm nhằm phân biệt sự kiện bất khả kháng và trở thành khách quan. Đối với sự kiện bất khả kháng, các chủ thể tham gia giao dịch dân sự vẫn biết quyền và nghĩa vụ dân sự của mình bị xâm phạm, nhưng do không lường trước được sự kiện bất khả kháng sẽ xảy ra. Khi sự kiện xảy ra thì các chủ thể tham gia giao dịch dân sự đều có thể nhận biết được sự kiện đó xảy ra vì thế các chủ thể này đã áp dụng các biện pháp cần thiết và bằng mọi khả năng mà mình có thể thực hiện được nhưng không thể thực hiện được quyền khởi kiện, quyền yêu cầu trong phạm vi khởi kiện. Ví dụ cơn bão khiến cho đường bị ngập, giao thông tắc nghẽn không đi lại được…
 
Khi có những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền và nghĩa vụ dân sự không biết về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ dân sự.
 
- Khoản 2 và 3 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định các sự kiện liên quan đến chủ thể quyền khởi kiện, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự mà khi quyền và nghĩa vụ của chủ thể bị xâm phạm, hoặc việc dân sự liên quan đến chủ thể đó xảy ra thì chủ thể không thể thực hiện được quyền của mình do:
 
+ Bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi mà chưa có người đại diện;
 
+ Đã có người đại diện nhưng người đại diện bị chết, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc vì lý do chính đáng khác mà người đại diện không thể tiếp tục thực hiện việc đại diện nhưng chưa có người đại diện khác thay thế.
 
- Trước đây theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 thì: chỉ có thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan không bị hạn chế mà được tính từ khi xảy ra sự kiện hoặc xảy ra trở ngại khách quan đó cho đến khi kết thúc sự kiện hoặc trở ngại khách quan đó. Còn đối với các trường hợp chưa có người đại diện hoặc chưa có người đại diện khác thay thế thì thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự do các sự kiện này không được quá một năm. Tuy nhiên, quy định như vậy không hợp lý, vì có thể sau một năm người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn chưa có người đại diện hoặc chưa tìm được người khác thay thế người đại diện bị chết,bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc vì lý do khác mà người đại diện không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của người đại diện. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì quyền và nghĩa vụ dân sự của người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện thực hiện hoặc phải được người đại diện đồng ý. Như vậy, nếu quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự của người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi không có người đại diện hoặc chưa có người đại diện là không được quá một năm thì trong nhiều trường hợp quyền và lợi ích của người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được bảo vệ. Chính vì thế, Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005 đã bỏ quy định này và như vậy thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự trong các trường hợp quy định tại Điều 161 là không hạn chế.
 
Nguồn tham khảo: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên) 
 
 
 
Tòa nhà HSLAWS, Số 183 Trường Chinh, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội.
       Điện thoại VP: 04 3724 6666 ; Di động : 090 574 6666           

Phản hồi khách hàng

 

Ý kiến của bạn

Họ tên:  
Email:
Nội dung:  
Mã bảo vệ:   1CVBFC
 

Tin đã đăng

Dịch vụ

Hỏi đáp Pháp Luật

Bài viết liên quan